Sinh ra ở quê hương Nam Đàn, Nghệ An, nhưng thời niên thiếu, cậu bé Nguyễn Sinh Cung và gia đình lại sống ở Cố đô Huế.
Ngày 5/6/1911, tại bến cảng Nhà Rồng, thành phố Sài Gòn-Gia Định (nay là Thành phố Hồ Chí Minh), người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành khi đó mới 21 tuổi trên chiếc tàu mang tên Amiral Latouche-Tréville, bắt đầu cuộc hành trình vượt đại dương tìm đường cứu nước, với một quyết tâm cháy bỏng: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu.”
Và từ đấy đến lúc đi xa, ngót 60 năm, Người chưa một lần được về lại mảnh đất miền Nam thân yêu; song hình ảnh đồng bào, chiến sỹ miền Nam luôn in đậm trong trái tim Người.
Nhà thơ Tố Hữu trong bài thơ “Bác ơi” viết năm 1969, đã nói hộ tấm lòng của Bác đối với miền Nam, cũng là tấm lòng của đồng bào miền Nam đối với Bác: “Bác nhớ miền Nam, nỗi nhớ nhà/ Miền Nam mong Bác, nỗi mong cha.”
Từ khi ra đi tìm đường cứu nước, cho đến khi đất nước giành được độc lập với Cách mạng Tháng Tám năm 1945, bước tiếp vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trường kỳ gian khổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn sát cánh, chia sẻ đau thương mất mát với đồng bào miền Nam anh dũng kiên cường - Thành đồng Tổ quốc.
Trong trái tim của Người, mỗi câu nói, mỗi việc làm, đều ghi đậm dấu hình Nam Bộ. Người nói: “Ở miền Nam, mỗi người, mỗi gia đình đều có một nỗi đau khổ riêng. Gộp nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi” và “Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”.
Ngày 1/6/1946, trước khi lên đường sang Pháp tìm giải pháp cứu vãn hòa bình ở Việt Nam, Bác đã gửi thư cho đồng bào Nam bộ khẳng định: “Đồng bào Nam bộ là dân nước Việt Nam.”
Tại Hội nghị Việt-Pháp ở Fontainebleau, Bác tuyên bố: “Nam bộ là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi.”
Trong lời tuyên bố với quốc dân khi từ Pháp về, Bác khẳng định: “Với quyết tâm của đồng bào, với quyết tâm của toàn thể nhân dân, Nam bộ nhất định trở lại cùng thân ái chung trong lòng Tổ quốc.”
Trong cuộc kháng chiến trường kỳ, Người kêu gọi nhân dịp kỷ niệm 6 năm Ngày Nam bộ kháng chiến (1952) và bày tỏ: “Dù ở xa, nhưng lòng tôi và Chính phủ rất gần Nam bộ. Tôi theo dõi từng giờ, từng phút cuộc đấu tranh anh dũng của đồng bào, chiến sĩ và cán bộ ta.”
Kết thúc cuộc kháng chiến lần thứ nhất, đất nước lại bị chia cắt, Bác viết thư gửi bộ đội và gia đình cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc (9/1954) phác ra tiến trình: “Đến ngày hòa bình đã được củng cố, thống nhất được thực hiện, độc lập dân chủ đã hoàn thành, đồng bào sẽ vui vẻ trở về quê cũ. Lúc đó rất có thể tôi sẽ cùng đồng bào vào thăm miền Nam yêu quý của chúng ta.”
📌“Miền Nam yêu quý luôn ở trong trái tim tôi”
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn theo sát từng bước đi của cách mạng giải phóng miền Nam, ngày đêm Người nhớ đến đồng bào và chiến sĩ miền Nam với tấm lòng thương yêu không bờ bến.
Năm 1962, Bác vui mừng được gặp Đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam ra thǎm miền Bắc. Bác đã đặt bàn tay lên ngực trái rồi cảm động nói: Bác chẳng có gì tặng lại cả, chỉ có cái này: Miền Nam yêu quý luôn ở trong trái tim tôi.
Năm 1963, khi được tin Quốc hội tặng thưởng huân chương cao quý nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Bác đã cảm ơn Quốc hội và nói: “Trong khi miền Bắc ra sức thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội để ủng hộ đồng bào miền Nam, thì đồng bào miền Nam anh dũng chiến đấu để bảo vệ công cuộc xây dựng hoà bình ở miền Bắc. Cho nên nhân dân miền Bắc từng giờ từng phút nhớ đến đồng bào miền Nam. Gần 20 năm trường, hết đấu tranh chống thực dân Pháp, lại đấu tranh chống Mỹ-Diệm, đồng bào miền Nam thật là xứng đáng với danh hiệu “Thành đồng của Tổ quốc” và xứng được tặng Huân chương cao quý nhất. Vì những lẽ đó tôi xin Quốc hội đồng ý thế này: Chờ đến ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc hoà bình thống nhất, Bắc-Nam sum họp một nhà, Quốc hội cho phép đồng bào miền Nam trao tặng cho tôi Huân chương cao quý. Như vậy toàn dân ta sẽ sung sướng, vui mừng.”
Nǎm 1965, gặp đoàn anh hùng dũng sỹ miền Nam ra thăm miền Bắc. Khi cả đoàn khóc vì sung sướng, cảm động và vây quanh Bác, Người xúc động nói: “Bác mong các cháu lắm, Bác nhớ đồng bào miền Nam lắm.”
Bác hỏi chuyện chiến trường và được biết tâm tư của đồng bào cán bộ chiến sỹ miền Nam “không sợ gian khổ, không sợ chết mà chỉ sợ một điều… sau này không được nhìn thấy Bác”. Vừa nghe xong, Bác trào dâng nước mắt, khóc vì thương nhớ miền Nam.
Cây vú sữa của đồng bào miền Nam gửi tặng được Bác nâng niu, chăm sóc, cho trồng ngay tại ngôi nhà sàn Bác ở; tấm bản đồ “Bố trí binh lực địch ở miền Nam Việt Nam đến tháng 8/1969” được treo ở ngôi nhà 67 là nơi Bác thường đối diện, trầm tư. Vào các dịp lễ, Tết, điều đầu tiên Bác nghĩ tới là đi thăm các trường con em miền Nam, “vườn ươm đặc biệt, ươm những hạt giống quý báu vào bậc nhất mà Bác Hồ, Đảng, Nhà nước và nhân dân miền Bắc đã dành cho miền Nam từ những ngày gian khó" (Lời Thủ tướng Phạm Văn Đồng).
Tháng 8/1969, Bác trên giường bệnh nhưng vẫn nghe báo cáo tình hình chiến trường, vẫn theo dõi bản đồ chiến sự miền Nam. Chiếc đài bán dẫn là chiến lợi phẩm thu được ở trận Phước Thành tháng 9/1961 gửi ra biếu Bác, hàng ngày cung cấp tin tức trong nước, tin thế giới và tin chiến trường miền Nam.Sau khi non sông thu về một mối, nhận thấy trong cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài và gian khổ, thành phố Sài Gòn-Gia Định đã không ngừng phát huy truyền thống kiên cường, bất khuất của dân tộc ta, lập nhiều chiến công xuất sắc.
Và thể theo nguyện vọng toàn dân từ Bắc chí Nam, ngày 2/7/1976, Quốc hội khóa VI - Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất đã thông qua nghị quyết lấy tên Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt cho thành phố Sài Gòn-Gia Định.
Sau 50 năm mang tên Bác, Thành phố Hồ Chí Minh đã khoác lên mình một vóc dáng đô thị vạm vỡ, vươn mình mạnh mẽ. Những thành tựu về mọi mặt đã khẳng định giá trị to lớn của hòa bình, thống nhất đất nước, đưa Thành phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học-công nghệ hàng đầu cả nước.